Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2012 0 nhận xét

Bài 4


Bài tham khảo :

NHẬP MÔN LÝ HỌC ĐÔNG PHƯƠNG

Bài này dành cho những người mới bắt đầu tìm hiểu lý học Đông phương như Tử Vi, Tử Bình, Thái Ất, Kỳ Môn, Độn Giáp, Lạc Việt Độn Toán, Luận Tuổi Lạc Việt, Phong Thủy Lạc Việt, Đông Y, Dịch Thái Tố, Mai Hoa, Lục nhâm, Bát Môn...thì cũng cần phải biết qua những kiến thức cơ bản về Thiên Can, Địa Chi, Dịch Quái...vì đây là những yếu tố cơ sở trong mọi vấn đề.
I. THẬP NHỊ ĐỊA CHI:

Địa Chi: Địa là đất, Chi là nhánh là cành lá. Cành lá ở đất. Phải chăng ý nói đây là những yếu tố khởi sinh vạn hữu trên địa cầu? Dù gì thì gì trước tiên hãy nắm bắt quy luật tương tác của các yếu tố này.
1. Ngũ hành của Địa Chi:

12 Chi còn gọi là Thập nhị Thời Thần của từng tháng (Nguyệt), gọi là Lệnh tháng hay Nguyệt Lệnh. Nếu mỗi một Chi nắm chủ của năm thì gọi là Thái Tuế (như là Vua). Nếu của ngày thì gọi là Nhật Lệnh. Nếu chủ của giờ gọi là Thời Lệnh.
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->


Quan sát trên tranh Ngũ Hổ thật kĩ mới thấy rằng hình Ngũ Hổ tượng trưng cho Ngũ hành, 5 trạng thái vật chất vận động trong vũ trụ, bên cạnh đó, Hổ Vàng ở giữa giữ Ấn (Triện), bên tả có gươm, bên hữu có cờ (Kỳ), 3 vật này tượng trưng đầy đủ của "Lệnh". Đây là tượng trưng cho uy lực và quy luật vận động của Ngũ Hành. Do đó, sách cổ vẫn gọi là Nguyệt lệnh, Nhật lệnh, Thời lệnh là cơ sở hay dấu vết còn xót lại trong ngôn ngữ mà khi quán xét trên văn hóa phi vật thể là tranh Đông hồ mới thấy được rằng dấu vết đó thuộc nền Văn hiến Việt 5000 năm bên bờ Nam sông Dương Tử.

Một năm có 12 tháng, chia ra là 4 Quý, tức là 4 Mùa: Xuân Hạ Thu Đông. Mỗi Quý là 3 tháng, mỗi tháng có 3 Kỳ: Mạnh - Trọng - Quý. Kỳ Mạnh là lúc vạn vật sinh sôi, đang tăng trưởng. Kỳ Trọng là vạn vật trưởng thành cứng cáp và bắt đầu có xu hướng suy vi. Kỳ Quý là vạn vật suy vi và quy tàn, chuyển hóa, khởi sinh sang trạng thái khác, đây là giai đoạn chuyển tiếp của tình trạng "Hóa".

<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->
Do vậy Kỳ Quý là thuộc tháng Thìn Tuất Sữu Mùi, thuộc hành Thổ, là giai đoạn tận tàn của tứ Thời (4 mùa) là sự chuyển tiếp và tiếp nối của trạng thái này sang trạng thái khác. Và như vậy nó là dư khí của mùa trước và khởi lực của mùa sau.2. Lục Hợp:

Dù vậy Dần Mẹo Thìn thuộc mùa Xuân, Tị Ngọ Mùi thuộc mùa Hạ, Thân Dậu Tuất thuộc mùa Thu, Hợi Tý Sữu thuộc mùa Đông.
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->


Lục hợp ý chỉ có 6 cặp Địa Chi hợp với nhau hay còn gọi là Nhị hợp, vì hai chi hợp nhau tạo thành một cặp. Trên bàn tay, dể dàng thấy ra rằng nhị hợp diễn ra theo chiều ngang giữa hai Chi.
Ngọ hợp Mùi thành Thổ
Tị hợp Thân thành Thủy
Thìn hợp Dậu thành Kim
Mẹo hợp Tuất Thành Hỏa
Dần hợp Hợi thành Mộc
Sữu hợp Tý thành Thổ


<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->
3. Lục Xung
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->



Từng cặp một đối nghịch với nhau về ngũ hành, Thủy Hỏa tương khắc, Kim Mộc giao tranh
Tị - Hợi, Tý Ngọ, Mão- Dậu, Thìn - Tuất, Sửu - Mùi, Dần - Thân tương xung
4. Lục Hại
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->

Tị Dần tương hại, Thìn Mão tương hại, Ngọ Sữu đều hại, Mùi Tý đều hại, Thân Hơi hại nhau, Dậu Tuất hại nhau.
5. Tam Hợp Cục

Thân Tý Thìn hợp thành Thủy cục.
Hợi Mẹo Mùi hợp thành Mộc cục.
Dần Ngọ Tuất hợp Thành Hỏa cục.
Tị Dậu Sữu hợp thành Kim cục.
6. Tam Tai
Thân Tý Thìn, từ Thìn lùi lại 2 cung thì Tam tai Thìn Mẹo Dần.
Hợi Mẹo Mùi, từ Mùi lùi lại 2 cung thì Tam tai Mùi Ngọ Tị.
Dần Ngọ Tuất, từ Tuất lùi lại 2 cung thì Tam tai Tuất Dậu Thân.
Tị Dậu Sữu, từ Sữu lùi lại 2 cung thì Tam tai Sữu Hợi Tý.


<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->
7. Tứ Mộ
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->

Tị gặp Tuất thì Mộ, vì Tị là Lâm Quan, Tuất là Mộ chí.
Thân gặp Sữu thì Mộ, vì Thân là Lâm Quan, Sữu là Mộ chí.
Tương tự : Hợi gặp Thìn thì Mộ, Dần gặp Mùi thì Mộ.
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
8. Tứ Tuyệt

<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->

Tị gặp Tý thì Tuyệt
Ngọ gặp Hơi thì Tuyệt
Mão gặp Thân thì Tuyệt
Dần gặp Dậu thì Tuyệt
9. Tương Hình


Tý hình Mẹo, Mẹo hình Tý là hình do Vô lễ.
Dần hình Tị, Tị hình Thân, Thân hình Tị là hình do Vong ân.
Sữu hình Tuất, Tuất hình Mùi, Mùi hình Sữu là hình do đặc quyền đặc thế.
Thìn Ngọ Dậu Hợi thì tự hình.
II. THẬP THIÊN CAN:
Bổ sung trong các bài tham khảo sau
(ngoài ra các bạn có thể tham khảo sách "Hà Đồ trong Văn minh Lạc Việt)
III. DỊCH QUÁI:
"Đạo của Dịch là Âm Dương" tức muốn nói tới sự vận động chuyển hóa của Âm Dương từ sự khởi nguyên của vũ trụ đến khi trùng trùng duyên khởi, khởi sinh vạn hữu thì quái tượng là ký hiệu siêu công thức phân loại nhỏ hơn chi tiết hơn các trạng thái vận động của vật chất là Ngũ hành, những kí hiệu này diễn tả sử chuyển hóa của Âm Dương biểu hiện qua các hiện tượng tự nhiên và xã hội.1. Hào và Đơn Quái

Trên trống đồng của người Việt xưa, các nhà nghiên cứu cho rằng những chấm liên tục tương trựng cho Âm, sau cô động thành vạch đứt (- -), tức Hào Âm, những vạch dài liên tục là tượng trưng cho Dương, sau viết gọn lại là vạch liền (-), sau gọi là hào Dương. Những vòng tròn có chấm ở giữa, gọi là "Mắt dịch", là biểu tương hào Âm Dương, nhưng mắc xích tròn liên tục cũng biểu tượng Âm Dương.



3 hào tổ hợp lại thành một thể gọi là Quái hay Đơn Quái. Do tổ hợp của Hào Âm và Hào Dương để tạo ra 1 quái gồm 3 hào nên có tất cả là 8 Đơn Quái.

Thứ tự từng Hào được đọc từ dưới lên trên, tương tự như đi lên bậc cầu thang.
Hào thứ nhất dưới thấp nhất là Hào sơ.
Hào thứ hai gọi là Hào Nhị hay hay Hào Trung, Hào giữa.
Hào thứ 3 gọi là hào tam hay Hào Thượng trong Đơn Quái.




Việt dịch trên bãi đá cổ Sapa
Trong Dịch học, để phân biệt hào âm hào dương, người ta có cách gọi khác nhau. Để gọi hài âm thì gọi là hào Lục. Lục là con số 6, trong độ số Dịch học thì 6 gọi là Lão Âm, tức Âm cùng cực, Âm Lớn nên được chọn là đại diện cho Âm. Để gọi là hào Dương thì người ta gọi là Cữu, vì độ số 9 trong dịch học là Lão Dương, Dương cùng cực nên lấy làm đại diện cho Dương.

**Nói ngoài lề: Trong tác phẩm võ hiệp của Kim Dung, Anh Hùng Xạ Điêu, tất cả Hắc Bạch đạo võ lâm đều tranh nhau sở hữu bí kiếp võ công Cữu Âm Chân Kinh. Đây là bí quyết võ công, nhưng thật ra cũng nói về âm dương trong võ học. Thay vì đặt là "Dương Âm Chân Kinh", tác giả đã sửa lại một từ Dương thành từ "Cữu", cũng ám chỉ là Dương.

Do vậy gọi tên các hào theo thứ tự, vì lẽ đó mà:
Hào Dương thứ nhất gọi là Sơ cữu.
Hào Dương thứ hai gọi là Cữu nhị.
Hào Dương thứ ba gọi là Cữu tam hay hào Thượng.
Hào Âm thứ nhất gọi là Sơ Lục.
Hào Âm thứ hai gọi là Lục nhị.
Hào Âm thứ ba gọi là Lục tam hay hào Thượng.


2. Trùng Quái

Trùng quái còn gọi là Quái kép, gồm 2 đơn quái chồng lên nhau, tổ hợp như vậy gồm 6 hào. Để phân biệt đơn quái và trùng quái, đơn quái gọi là Quái, Trùng quái gọi là Quẻ.

8 Quái biểu thị cho 8 tương loại tổ hợp với nhau tao nên 64 quẻ Dịch, gồm 512 hào âm dương.
64 quẻ khởi đầu là bát thuần Càn, kết thúc là quẻ Hỏa Thủy Vị Tế tượng trưng cho vạn vật vẫn phát triển mãi không ngừng, điểm đầu cũng là điểm kết thúc.
Sau này có sách gọi là " Đại Diễn Tân Giải", lấy 64 quẻ tổ hợp với nhau 64 x 64 tạo thành 4096 quẻ đôi (!), gọi là quẻ Đại Diễn.

Cách đọc tên các hào của trung quái cũng như đơn quái, từ thấp lên cao. Riêng hào thứ sáu trên cùng có thể gọi là hào thượng hay thượng hào.

Trong Dịch quái 6 hào, người ta quan trọng ngôi hào thứ 5, vì hào thứ 5 tượng trưng cho vị trí của Vua, của người lãnh đạo, hào 6 là quân sư hay cố vấn, hào 4 là quần thần, hào 3 quân sư của quan nhỏ, hào 2 là tiểu quan và hào sơ là thứ dân.
Trong dịch lý chú trọng là "đắc vị", tức hào 2 và 5 là vị trí người lãnh đạo thì phải là hào dương, gọi "đắc chính", nếu là hào âm thì "thất vị", gọi là "bất chính". Vì hòa 2 và 5 là hai hào ở giữa của hai quái đơn, là tượng của vị trí đứng đầu, nên gọi là "đắc trung"; cho nên bói hào 5 hay hào 2 là dương thì gọi là đắc "trung chính". Do vậy hào 5 là hào dương thì gọi là Cữu Ngũ. Đây là vị trí tượng trưng cho vua nên khi một ông vua lên ngôi thì gọi là "Lên ngôi cữu ngũ". Đấy là từ trong Dịch lý mà ra.
3. Bát Quái

Tám quẻ đơn theo thứ tự thuận chiều kim đồng hồ: Càn Khảm Cấn Chấn, Khôn Ly Tốn Đoài, trên Hậu Thiên lạc Việt.

Càn: trời, ông, cha, vua, đại nhân, phúc lộc, vàng, ngọc, rồng, ngựa tốt...
Khôn: đất, bà, mẹ, vợ, dân, tiểu nhân, nhà cửa, ruộng đất, bò, ngựa con...
Chấn: tổ, chủ, con trai cả, hươu lộc, đầu...
Tốn: phụ nữ, con gái cả, gà cá, giường, bắp đùi...
Khảm: mặt trăng, mương rảnh, con
trai giữa, kẻ trộm, chè kem...
Ly: mặt trời, lửa, điện, con gái giữa, mũi tên, lưới, con mắt, tim...
Cấn: núi, đá, con trai út, tiểu nhân, trẻ thơ, con hổ...
Đoài: sông hồ, con gái út,  em dâu, vợ, bạn, cái miệng, dê...
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->


 4. Con Gái Nhờ Đức Cha, Con Trai Nhờ Đức Mẹ

Đây là câu cửa miệng của người Việt Nam mà ai ai cũng đều biết. Nhưng đó lại là mật ngữ lý học lưu truyền đến ngày nay trong dòng chảy Văn hiến Việt. Mật ngữ này đã được Thầy Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh giải mã trong tác phẩm Thời Hùng vương qua truyền thuyết và Huyền Thoại, Tìm về côi nguồn Kinh Dịch.v.v.
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->


Quan sát sự biến quái, do sự biến đổi âm dương của hào thì sẽ thấy rỏ đều này.
Quái Càn khi hào sơ cữu động biến dương chuyển thành âm thì ra hào sơ lục trở thành quái Tốn, tượng cho Trưởng Nữ.
Quái Càn khi hào cữu nhị động biến dương chuyển thành âm thì ra hào lục nhị trở thành quái Ly, tượng cho Trung Nữ.
Quái Càn khi hào cữu tam động biến dương chuyển thành âm thì ra hào lục tam trở thành quái Đoài, tượng cho Thiếu Nữ.

Như vậy nhóm quái Tốn, Ly, Đoài là tượng cho con gái. Ta dể dàng thấy rằng tổ hợp của từng đơn quái thì mỗi quái gồm 2 hào dương 1 hào âm; dương lấn át, chính do sinh ra từ dương quái Càn. Đúng với câu "Con gái nhờ đức cha".
Sự nhất quán còn rỏ ràng hơn nữa khi ta quan sét thấy rằng người nữ về thể chất, cơ thể có đường nét uốn lượn, cong nhô, mượt mà...thể hiện dương về thể chất và âm về khí chất. Tượng quái Tốn Ly Đoài thuộc nhóm quái dương, biểu tượng dương về chất âm khí.


<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
Quái Khôn khi hào sơ lục động biến âm chuyển thành dương thì ra hào sơ cữu trở thành quái Chấn, tượng cho Trưởng Nam.
Quái Khôn khi hào lục nhị động biến âm chuyển thành dương thì ra hào cữu nhị trở thành quái Khảm, tượng cho Trung Nam.
Quái Khôn khi hào lục tam động biến âm chuyển thành dương thì ra hào cữu tam trở thành quái Cấn, tượng cho Thiếu Nam.
Như vậy nhóm quái Chấn, Khảm, Cấn là tượng cho con trai. Ta dể dàng thấy rằng tổ hợp của từng đơn quái thì mỗi quái gồm 2 hào âm 1 hào dương; âm chủ đạo, chính do sinh ra từ dương quái Khôn. Đúng với câu "Con trai nhờ đức mẹ". 
Sự nhất quán còn rỏ ràng hơn nữa khi ta quan sét thấy rằng người nam về thể chất, cơ thể có đường nét vuông vứt, phẳng trơn, cứng cáp, thô kệch...thể hiện âm về thể chất và dương về khí chất. Tượng quái Chấn, Khảm, Cấn thuộc nhóm quái âm, biểu tượng âm về chất dương khí.
5. Bất Dịch và Điên Đão Dịch

Các nhà nghiên cứu Lý học phân chia thành hai nhóm quái trong 8 quái đơn thành nhóm Bất Dịch và Điên Dẵo Dịch.
- Nhóm Bất Dịch: gồm 4 quái Càn - Khôn - Khảm - Ly. Các quái này khi lật 180 thì vẫn không biến đổi thành quái khác, trừ phi các hào biến đổi âm dương.

- Nhóm Điên Đão Dịch: gồm quái Cấn - Chấn - Đoài - Tốn, các quái này khi lật 180 độ thì biến thành quái khác và khi biến đổi âm dương hào thì biến thành một quái Điên Đão Dịch cùng tính chất.

<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->

<!--[endif]-->
Tham khảo bổ sung :THẬP THIÊN CAN
Bài học này nói về sự hợp - khắc về Thiên Can. Bài này chỉ dành cho anh chị em mới học. Nhưng về mặt phân tích lý luận thì các anh chị em đã nghiên cứu lâu vẫn có thể xem qua , do có những vấn đề nguyên lý và sự giải thích không có trong sách cổ chữ Hán.

Anh chị em thân mến.

Thiên Can nguyên nghĩa là: "Căn gốc ở trời". Theo lý của thuyết Âm Dương Ngũ hành là cái có trước, vì trời thuộc Dương . Nguyên lý Dương trước Âm sau. Đây là nguyên lý rất căn bản của thuyết Âm Dương ngũ hành. Điều này được biểu tượng độc đáo trên hình tượng bánh chứng bánh dày và câu thành ngữ nổi tiếng: "Mẹ tròn (Dương) - Con vuông(Âm)".
Bởi vậy sự tương tác của Thiên can là một yếu tố rất quyết định trong phương pháp dự báo Luận Tuổi Lạc Việt

Thiên Can có nguồn gốc từ Ngũ hành. Nên chia theo Ngũ hành. Dưới sự chi phối của Âm Dương chia làm 5 Âm Năm Dương. Bởi vậy có thập thiên can là:
Giáp Mộc - Bính Hoả - Mậu Thổ - Canh Kim - Nhâm Thuỷ Thuộc Dương, Thiên Can Dương.Ất Mộc - Đinh Hoả - Kỷ Thổ - Tân Kim - Quý Thuỷ. Thuộc Âm, Thiên Can Âm.

Trên đây là thuận tự chu kỳ tương sinh của Thiên Can theo Ngũ hành :
Mộc => sinh Hoả => sinh Thổ => sinh Kim => sinh Thuỷ và Thuỷ lại sinh Mộc.
Chu kỳ tương khắc là:
Thuỷ = khắc Hoả = khắc Kim = Khắc Mộc= khắc Thổ và Thổ lại khắc Thuỷ 

Nếu muốn tìm hiểu khái niệm ngũ hành từ đâu mà ra xin tham khảo thêm bài viết "Định mệnh có thật hay không".

Lưu ý:
1) Dương sinh Dương và Âm sinh Âm là sinh thuân lý.
Thí dụ: 
Giáp Mộc sinh Bính Hoả.
2) Dương khắc Dương và Âm khắc Âm là khắc thuận lý.
Thí dụ: 
Đinh Hoả khắc Tân Kịm
3) Tuy xung khắc nhưng Âm Dương không khắc sát. Ngược lại vẫn có thể bổ trợ cho nhau.
Thí dụ A: Mộc khắc Thổ. Nhưng Giáp Mộc vẫn hợp Kỷ Thổ. Nhưng lưu ý : Về lý Mộc vẫn khắc Thổ.
Thí dụ B: Thổ sinh Kim. Nhưng Kỷ Thổ khắc Canh Kim. Nhưng lưu ý: Về Ly Thổ vẫn sinh Kim.
Trường hợp 1 & 2 là trường hợp nguyên lý chung. Trường hợp 3 là ứng dụng cụ thể. Nói là cụ thể , nhưng chúng ta phải hiểu cái cụ thể này chỉ là so với nguyên lý vũ trụ nói chung thì sự tương tác gần gũi với địa cầu là cụ thể. Nhưng với chúng ta thì vẫn là một qui luật mang tính khái quát rất cao. Sự tương quan giữa thiên can Âm và Dương mang tính khắc như Giáp Mộc và Kỷ thổ vẫn hợp nhau liên quan đến một qui luật tương tác với địa cầu là Hà Đồ

Phần trên là trình bày về nguyên lý sinh khắc của Ngũ hành liên quan đến Thập Thiên Can. Nhưng trong quá trình vận động của vũ trụ từ sự khởi nguyên cho đến khi hình thành Thái Dương hệ. Những mối quan hệ tương tác có một sự tương quan mới. Trong cổ thư chữ Hán ghi nhận:
Giáp hợp Kỷ phá Ất, xung Canh...

Tại sao Giáp Mộc lại hợp Kỷ Thổ?
Những điều này trong cổ thư chữ Hán chỉ nói như một tiên đề trong ứng dụng và không chứng minh được.
 Ta thấy rằng, quy luật vận động của các vì sao và hành tinh trong vũ trụ một thực tại làm nền tảng cho khoa dự đoán Đông phương (vốn có đầy đủ những yếu tố theo tiêu chí khoa học hiện đại). Chính một trong những quy luật cục bộ liên quan đến Địa cầu là thực tại làm nên đồ hình biểu lý lý thuyết cho nó là Hà Đồ. 
Hà Đồ và Hậu thiên bát quái Lạc Việt là đồ hình biểu lý cho sự tương tác của vũ trụ với Địa cầu; đã chứng tỏ tính hợp lý trong một số vần đề liên quan đến nó. Hay nói cách khác : Hà đồ đã chứng tỏ tính hợp lý trong sự lý giải những hiện tượng và vấn đề trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Nhưng với quan niệm cho rằng:Hà đồ và Hậu thiên bát quái Lạc Việt là nguyên lý căn để cho tất cả mọi phương pháp ứng dụng của thuyết Âm Dương Ngũ hành; hay nói cách khác theo ngôn ngữ Lạc Việt: Pháp Đại uy nỗ 
Do đó, vấn đề không thể dừng lại ở đây. Bài viết này là sự tiếp tục chứng tỏ tính hợp lý của Hà Đồ trong nguyên lý tương hợp của thập thiên can.
Trong các cổ thư liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ hành chúng ta thường thấy một tiền đề sau đây:

Giáp (Mộc) hợp Kỷ (Thổ)
Bính (Hỏa) hợp Tân (Kim)
Mậu (Thổ) hợp Quí (Thủy)
Canh (Kim) hợp Ất (Mộc)
Nhâm (Thủy) hợp Đinh (Hỏa).


Đây là một tiền đề của qui tắc lập cục trong Tử vi đẩu số và cũng là một tiền đề quan trọng của lý học cổ Đông phương, được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực: y lý, lịch số, dự đoán… Tiền đề này chưa có sự lý giải và cũng là sự bí ẩn đã trải hàng thiên niên kỷ trong các cổ thư chữ Hán lưu truyền. Chính vì sự bí ẩn này khiến cho những nhà nghiên cứu và những người tìm hiểu về lý học Đông phương phải chấp nhận một cách khiên cưỡng tiền đề nói trên:

Mộc khắc Thổ (lý tương khắc của Ngũ hành). Nhưng trong tiền đề nói trên thì Giáp – Mộc lại hợp Kỷ – Thổ; thật khó hiểu!
Chưa hết, trong các sách ứng dụng phương pháp luận Âm Dương Ngũ hành vào các lĩnh vực Đông y, Lý học hoặc dự đoán tương lai, thường gặp những định đề cũng không có sự lý giải mà bắt buộc phải học thuộc lòng sau đây:

Giáp hợp Kỷ phá Ất xung Canh; hoặc Mậu hợp Quí phá Giáp khắc Kỷ…

Sự bí ẩn của tiền đề này cũng xuất phát từ sai lầm căn bản tồn tại từ hàng ngàn năm nay, khi cho rằng: Âm Dương và Ngũ hànhlà hai học thuyết riêng biệt không liên quan đến nhau. Từ sai lầm căn bản này, sẽ không có cơ sở nào để liên hệ thập Thiên can (mang yếu tố Ngũ hành) với Lạc thư và Hà đồ (Được nhắc đến đầu tiên trong kinh Dịch – nói đến Âm Dương, không có yếu tố Ngũ hành). 
Điều quan trọng hơn cả là:Nền văn minh Hán đã tiếp thu một cách sai lệch và không hoàn chỉnh thuyết Âm Dương Ngũ hành từ văn minh Lạc Việt. Bởi vậy; tất cả các phương pháp ứng dụng của thuyết này – trong cổ thư chữ Hán – cứ như từ trên trời rơi xuống; và trải hàng ngàn năm; tri thức của nhân loại không thể nào chứng minh được một thực tại nào là cơ sở của học thuyết này.

Tuy nhiên với sự khẳng định cho rằng:
Cội nguồn cũa thuyết Âm Dương Ngũ hành thuộc về văn minh Lạc Việt và là một học thuyết hoàn chỉnh, nhất quán. Tiền đề của học thuyết này chính là sự vận động tương tác có qui luật trong vũ trụ; từ hạt vật chất nhỏ nhất cho đến các thiên hà khổng lồ. Và Hà đồ chính là một đồ hình biểu lý và là nguyên lý căn để trong ứng dụng của khoa Thiên văn học Đông phương; cũng như sự ứng dụng những hệ luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành trên thực tế; thì mọi sự huyền bí của văn minh Đông phương sẽ sáng tỏ.
Hay nói một cách dân dã theo ngôn ngữ dân gian Lạc Việt: 

Hà đồ chính là một Pháp Đại Uy Nỗ; là sự biểu lý cho một qui luật chủ yếu bao trùm mọi hiện tượng trên Trái đất và con người.
Trên cơ sở này; chứng ta lý giải nguyên lý tương hợp của thập Thiên Can như sau:
Chúng ta sắp xếp thập Thiên can theo lý Âm Dương và Ngũ hành tương sinh, đánh số thứ tự từ 1 đến 10 từ Giáp đến Quí, ta sẽ được một bảng sau.


<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
Qua bảng trên bạn đọc cũng nhận thấy: Tất cả các số của thập Thiên can vừa đúng 10 số có trên Hà đồ. Sự trùng hợp này không thể là một sự ngẫu nhiên, khi chúng những nền tảng căn bản của một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh và là sản phẩm trí tuệ con người phản ảnh sự nhận thức thực tại vũ trụ và điều kiện thiên nhiên. Bởi vậy; chúng phải có một sự liên hệ chặt chẽ. Điều này được chứng tỏ khi chúng ta sắp xếp thập Thiên can trên cơ sở độ số theo thứ tự của ở bảng trên vào vị trí có độ số tương ứng của Cửu cung Hà đồ ta được bảng sau:
Độ số Hà đồ phối độ số Thiên Can 

Như vậy trên cơ sở độ số của Thiên can tương ứng với độ số của Cửu cung Hà đồ, ta sẽ có sự tương hợp bởi cùng hành như sau:

Giáp (1) hợp Kỷ (6) trong hành 
Thủy;
Bính (3) hợp Tân (8) trong hành 
Mộc;
Mậu (5) hợp Quí (10) trong hành 
Thổ;
Canh (7) hợp Ất (2) trong hành 
Hỏa;
Nhâm (9) hợp Đinh (4) trong hành Kim.

<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->
Như vậy, mỗi một hành trên Hà đồ đi liền với hai Thiên can một Âm một Dương.
Điều này cũng lý giải một bài phú truyền bí ẩn, có nội dung như sau:
Nhất lục cộng tông (1 – 6 cùng họ)/ Thuỷ
Nhị thất đồng đạo (2 – 7 cùng đi một đường)/ Hoả
Tam bát vi bằng (3 – 8 như nhau)/ Mộc
Tứ cửu vi hữu (4 – 9 là bạn bè)/ Kim
Ngũ thập đồng đồ (5 – 10 cùng một loại)/Thổ


Điều này không thể thực hiện trên Lạc thư vì trung cung Lạc Thư chỉ có một số; không có sự tương thích hợp lý.

Với đồ hình đã trình bày ở trên. Chúng ta có thể lý giải những trường hợp bí ẩn khác, như: Giáp hợp Kỷ phá Ất xung Canh và những trường hợp tương tự như sau:

Giáp (1) nằm ở vị trí Dương Thủy, khắc Ất (2) Canh (7) nằm ở vị trí Âm Dương Hỏa theo lý tương khắc của Ngũ hành; hoặc Mậu (5) nằm ở vị trí Dương Thổ khắc Giáp (1) Kỷ (6) nằm ở vị trí Âm Dương Thủy. Từ đó, suy ra một số định đề bí ẩn khác như: Bính là quí nhân của Kỷ, vì độ số của Bính (3) và độ số của Kỷ (6) nằm trên cung tương sinh của Ngũ hành: Thủy sinh Mộc trên Hà Đồ v.v…
Qua đồ hình trên đã lý giải tất cả mọi trường hợp Sinh – Khắc – Thừa – Vũ của thập Thiên can, vốn là sự bí ẩn đã trải nhiều thiên niên kỷ. Kể từ khi thần Kim Qui – một biểu tượng của nền văn minh Lạc Việt – rẽ nước lặn xuống biển cùng với An Dương Vương, đã mang theo tất cả những bí mật của nó và để lại một nền văn hóa Đông phương đầy huyền bí.
Như vậy, với sự chứng minh ở trên đã chứng tỏ rằng: Lạc thư Hà đồ (Hiểu theo nghĩa: Sách của người Lạc Việt viết về Hà đồ) là tiền đề của khoa Thiên văn học cổ Văn Lang và là nguyên lý ứng dụng căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành; từ đó tính toán các hiệu ứng vũ trụ tác động lên tự nhiên, xã hội và đời sống con người.
Ngoài  ra :
Cùng liên hệ tới thập Thiên Can còn một tiền đề bí ẩn khác không có sự lý giải và cũng là sự bí ẩn trải hàng thiên niên kỷ; đó là:
Nguyên tắc Lục hợp trong sự tương quan hành khí và Thiên can qua bài khẩu quyết sau đây:
Giáp hợp Kỷ hóa Thổ
Ất hợp Canh hóa Kim 
Bính hợp Tân hóa Thủy
Đinh hợp Nhâm hóa Mộc
Mậu hợp Quí hóa Hỏa.
Trong cuốn Dự đoán theo tứ trụ ông Thiệu Vĩ Hoa có đưa ra hai cách lý giải sau đây:
1) * Giáp hợp với Kỷ hóa Thổ là năm Giáp, năm Kỷ lấy Bính làm đầu, Bính Dần là tháng giêng của năm Giáp, năm Kỷ. Bính là Hỏa, Hỏa sinh Thổ nên Giáp hợp Kỷ hóa Thổ.
* Ất hợp với Canh hóa Kim là nói năm Ất, năm Canh lấy Mậu làm đầu, Mậu Dần là tháng giêng của năm Ất, năm Canh. Mậu là Thổ, Thổ sinh Kim nên Ất hợp Canh hóa Kim.
* Đinh hợp với Nhâm hóa Mộc là nói năm Đinh, năm Nhâm là lấy Nhâm làm đầu, tức Nhâm Dần * Bính hợp với Tân hóa Thủy là nói năm Bính, năm Tân lấy Canh làm đầu, Canh Dần là tháng giêng của năm Bính, năm Tân. Canh là Kim, Kim sinh Thủy nên Bính hợp với Tân hóa Thủy.
là tháng giêng của năm Đinh, năm Nhâm. Nhâm là Thủy, Thủy sinh Mộc nên gọi Đinh hợp với Nhâm hóa Mộc.
* Mậu hợp Quí hóa Hỏa, tức là năm Mậu, năm Quí lấy Giáp làm đầu, Giáp Dần là tháng giêng của các năm Mậu, năm Quí. Giáp là Mộc, Mộc sinh Hỏa nên Mậu hợp Quí hóa Hỏa.
2- Có ý kiến nói mười can hóa hợp với nhau là do phương vị của 28 ngôi sao trên trời quyết định.
Mười can hóa hợp là Dương hợp với Âm , Âm hợp với Dương, là Âm Dương hóa hợp. Sách “Chu dịch” có câu: “Một Âm, một Dương gọi là một đạo.” Âm Dương hợp với nhau như nam nữ hợp với nhau để thành đạo vợ chồng.

Trong sách Hoàng Đế Nội kinh với suy đoán vận khí, tác giả Đàm Thành Mậu cũng nhắc tới tiền đề trên và ông đã ứng dụng trong việc suy đoán vận khí cho những vấn đề mang tính lý luận y học. Ông lý giải như sau:
“Tại sao thuộc tính của Thiên can hóa năm vận lại không đồng nhất? Đó là bởi vì Thiên can ghép với Ngũ hành là lấy quan hệ năm phương, năm mùa để xác định, mà năm vận thì căn cứ vào biến hóa tượng Trời, cũng chính là sự biến hóa của các sao trên trời”. 

Qua phần trích dẫn, bạn đọc cũng nhận thấy rằng:
Cho đến tận bây giờ, các nhà lý học Trung Hoa cũng chưa lý giải được tiền đề nói trên. Hai sự lý giải do ông Thiệu Vĩ Hoa đưa ra tuy chưa rõ ràng; nhưng còn chứng tỏ tinh thần nghiên cứu nghiêm túc. Còn sự lý giải của ông Đàm Thành Mậu thì rất mơ hồ.
Hiện tượng bí ẩn trên cũng chỉ được lý giải một cách nhất quán và hợp lý trong các mối liên hệ tương quan với Hà Đồ. 
Thứ Năm, 8 tháng 11, 2012 0 nhận xét

Bài 3




Bài 2
III - NỘI DUNG PHONG THUỶ LẠC VIỆT 

III -1: Sự thống nhất các phương pháp trong Phong thuỷ Lạc Việt.
Nội dung ứng dụng của Phong thuỷ Lạc Việt về căn bản không khác các phương pháp ứng dụng rời rạc, từng phần còn lưu truyền lại trong các cổ thư chữ Hán của Phong thuỷ (Mà các nhà nghiên cứu quen gọi là trường phái). Điều khác nhau ở đây là:
III - 1 - 1: Phong Thuỷ Lạc Việt xuất phát từ nguyên lý căn để Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ. Đây chính là nguyên lý nền tảng của Phong thuỷ Lạc Việt để xác định và thống nhất mọi phương pháp ứng dụng trong Phong thuỷ Lạc Việt.
III - 1 - 2: Tất cả các phương pháp ứng dụng trong Phong Thuỷ rời rạc từ cổ thư chữ Hán còn lưu lại và xuất hiện trong văn hoá Hán vào những thời điểm khác nhau - quen gọi là trường phái - như: Hình lý khí (Loan đầu); Dương trạch; Bát trạch; Huyền không và rất nhiều sách vở tản mát khác ...đều không phải là những yếu tố riêng phần, mà là những yếu tố tương tác căn bản trong Phong thuỷ Lạc Việt để quán xét một đối tương duy nhất của nó. Những yếu tố tương tác này thống nhất trong một nguyên lý duy nhất: Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ.
III - 1 - 3: Điều quan trọng là Phong thuỷ Lạc Việt là một hệ thống nhất quán với nguyên lý của nó và mọi hiện tượng được giải thích bằng nguyên lý này -Hậu thiên Lạc Việt phối Hà Đồ. Hay nói một cách khác:
Phong thuỷ Lạc Việt là một hệ thống phương pháp luận có một nguyên lý hoàn chỉnh, nhất quán, giải thích mọi vấn đề liên quan đến nó một cách hợp lý, có tính qui luật, tính khách quan và khả năng tiên tri.
     Nhưng về phương pháp ứng dụng 
Phong thuỷ Lạc Việt không hề phủ định tri thức phong thuỷ truyền thống mà chỉ là sự hiệu chỉnh một số vấn đề cụ thể liên quan và thống nhất với nguyên lý của nó.
Thí dụ:
     Người mạng 
Khảm theo sách Hán thì Sinh Khí ở Đông Nam và Tuyệt Mạng ở Tây Nam . Nay theo nguyên lýHậu thiên Lạc Việt (Đổi chỗ Tốn - Khôn) thì Đông Nam phạm Tuyệt Mạng và Tây Nam là Sinh Khí. Mọi tương quan giữa bát quái với quái bản mệnh vẫn không đổi. Để có một hình ảnh so sánh cụ thể: chúng ta có thể lấy lá số cho một người từ trình Tử Vi Lạc Việt (lyhocdongphuong.org.vn) và một lá số lấy từ trình tử vi phi Lạc Việt để so sánh thì hoàn toàn không khác nhau là bao nhiêu. Phương pháp luận đoán không thay đổi. Mọi vấn nạn của Tử Vi như sai giờ, đoán dở, vv...vẫn như nhau trên hai lá số. Phương pháp luận và các ứng dụng về tương quan các sao không thay đổi . Chỉ khi Ngũ hành bản mệnh, hoặc rơi vào trường hợp tương tác với các sao là tính tương tác sẽ gia giảm.

<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->
III - 1 - 4: Bản chất của Phong thuỷ Lạc Việt. 
    Từ hàng ngàn năm trôi qua, Phong thuỷ là một bộ môn cấu thành nền văn hóa Đông phương và góp phần vào sự kỳ bí huyền vĩ của nền văn hóa này. Cho đến gần cuối thể kỷ 20. khi tri thức khoa học chưa thực sự phát triển thì môn Phong thuỷ vẫn còn bị coi là mê tín dị đoan. Nhưng đến những năm cuối của thế kỷ trước thì Phong thuỷ được coi là đối tượng nghiên cứu khoa học, chính vì hiệu quả ứng dụng của nó. Có thể nói hầu hết các cuờng quốc trên thế giới đều có các bộ phận nghiên cứu về Phong thuỷ. Thậm chí ở Đức – theo nguồn tin trên Tuổi Trẻ Online còn có cả viện nghiên cứu về Phong Thủy. Mặc dù vậy, các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra được bản chất của các phương pháp ứng dụng Phong Thuỷ phản ánh một thực tại nào? Cho đến tận ngày hôm nay, tất cảc các phong thuỷ gia vẫn chỉ là những người ứng dụng phương pháp có sẵn. Họ hoàn toàn không hiểu được vì sao lại có phương pháp đó. Đây lại là một bằng chứng nữa chứng tỏ rằng: Môn Phong thuỷ không thể thuộc về văn minh Hoa Hạ. Bởi vì, khi chính nền văn minh Hoa Hạ cũng không giải thích được những yếu tố có tính nguyên lý của nó và một thực tại mà nó ứng dụng. Bản thân thuyết Âm Dương Ngũ hành trong các bản văn chữ Hán cổ còn truyền lại cũng không hề ghi nhận tính hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Cho đến ngày hôm nay, khi các bạn đang đọc những hàng chữ này thì vấn đề thuyết Âm Dương Ngũ hành có phải là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán hay không vẫn còn là một vấn đề tranh luận về mặt lý thuyết. Trong khi đó thì môn phong thuỷ - cũng như Đông Y - lại ứng dụng một cách hoàn hảo phương pháp luận
IV - KẾT LUẬN 
Phong thuỷ là một phương pháp ứng dụng có hiệu quả trong văn minh Đông phương, trải hàng ngàn năm. Đó là một thực tại không thể phủ nhận dù người ta nhìn nó với góc độ nào và kết luận nó là cái gì. Trước sự tiến bộ ngày càng nhanh về tri thức khoa học hiện đại và nhất là khoa học lý thuyết, những giá trị tồn tại trên thực tế của văn minh Đông phương đã được các khoa học gia hàng đầu nhìn nhận như một đối tượng khoa học nghiêm túc. Phong thuỷ Lạc Việt chính là một hướng nghiên cứu phong thuỷ nhằm tìm về cội nguồn đích thực và những thực tại còn chưa biết ẩn chứa đằng sau hiệu quả thực tế của nó với những luận cứ đã trình bày ở trên. Đó là lý do chúng tôi mở lớp đào tạo phong thuỷ Lạc Việt để có điều kiện thuận lợi cho hướng nghiên cứu này và đào tạo tầng lớp kế thừa nhằm gìn giữ những gía trị học thuật thuộc văn hóa truyền thống Lạc Việt. Chúng tôi rất hy vọng được sự quan tâm của quí vị học giả và những Phong thuỷ gia cùng tham gia nghiên cứu mở các bài viết trong lớp Phong Thuỷ Lạc Việt, để chứng minh những giá trị đích thực của một thực tại còn huyến vĩ trong trí thức nhân loại hiện đại. Khi mà những hiệu quả thực tế của phương pháp ứng dụng trong phong thuỷ trải hàng ngàn năm đã chứng tỏ một thực tại mà nhân loại chưa biết đến ẩn chưa đàng sau phương pháp ứng dụng của nó.
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->
Thiên Sứ - Nguyễn Vũ Tuấn Anh 
• Chú thích: Cho đến ngày hôm nay, vẫn còn tiếp tục có sự tranh luận về tính thống nhất của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Đại đa số các nhà nghiên cứu lý thuyết cho rằng: Âm Dương Ngũ hành là hai học thuyết riêng biệt và hoà nhập trong lịch sử văn minh Hoa Hạ vào khoảng đầu kỷ nguyên. Thậm chí trong ứng dụng, có không ít người còn phủ nhận sự tương tác của Ngũ hành trong Tử vi.

NHỮNG NGUYÊN LÝ CĂN BẢN CỦA THUYẾT ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH
TRONG PHONG THỦY LẠC VIỆT

Thiên Sứ
Trong khóa này tôi bổ sung một số bài giảng cho những anh chị em chưa nắm được những nguyên lý căn bản về thuyết Âm Dương Ngũ hành được phục hồi nhân danh nền văn hiến Việt. Mục đích để anh chị em nhận thức được những nguyên lý căn để này và ứng dụng trong nghiên cứu phong thủy.

I - Sơ lược về thuyết Âm Dương và thuyết Ngũ hành trong cổ thư chữ Hán :
Trong các bản văn chữ Hán lưu truyền lại hàng ngàn năm nay, nếu nói đến thuyết Âm Dương thì không nói đến Ngũ hành và ngược lại. Những nhà nghiên cứu hiện đại có tên tuổi như Thiệu Vĩ Hoa cũng phải dè dặt nhận xét rằng:
“Giới Dịch học cho rằng: Thuyết Âm Dương rất có thể ra đời cùng thời với thuyết Ngũ hành”.
Như vậy chứng tỏ rằng: Ngay trong giới các nhà nghiên cứu Trung Hoa từ hàng ngàn năm nay cũng đang hoài nghi chính những giá trị có tính nguyên lý của lý học Đông phương mà họ ngộ nhận là sản phẩm của tổ tiên  họ.
    Thực tế ứng dụng đã cho thấy một sự tương phản ngược với thực trang lý thuyết. Trong Hoàng Đế nội kinh tố vấn – Tương truyền ra đời 6000 năm cách ngày nay – Trước cả vua Đại Vũ (4000 năm cách ngày nay) tìm ra con rùa trên sông Lạc để từ đó nghĩ ra thuyết Ngũ hành và Lạc thư theo truyền thuyết Trung Hoa – Thì thuyết Âm Dương Ngũ hành đã chứng tỏ tính nhất quán và hoàn chỉnh qua phương pháp luận ứng dụng của nó trong cuốn sách này.
Đó chính là một trong những dấu chứng quan trọng chứng tỏ rằng :
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->
Thuyết Âm Dương Ngũ hành không thuộc về nền văn minh Hoa Hạ.

II - Thuyết Âm Dương Ngũ hành từ văn minh Lạc Việt :
Nền văn minh Lạc Việt xác định rằng:
Thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết thống nhất, hoàn chỉnh và nhất quán.
    Những di sản văn hóa phi vật thể còn lại từ nền văn minh này lưu truyền trong văn hóa dân gian Việt Nam và những bản văn cổ còn sót lại đã chứng tỏ điều này – Thí dụ như cuốn 
Hoàng đế nội kinh Tố vấn. Thái Ất, Kỳ Môn….
    Căn cứ vào những điều này quán xét nội dung của thuyết Âm Dương và thuyết Ngũ hành chúng ta cũng thấy nó phải là một học thuyết hoàn chỉnh và nhất quán:
Âm Dương là hai khái niệm miêu tả sự phân biệt từ khởi nguyên vũ trụ đến mọi vật thể từ vi mô đến vĩ mô trong vũ trụ và có trong vạn vật. Vậy sự phân biệt bản chất sự vật trong khái niệm Âm Dương là gì? Sẽ hoàn toàn khập khiễng nếu
trong vạn vật đều có thuộc tính Âm- Dương nhưng lại không thể hiện bản chất riêng của nó. Bởi vậy phải có Ngũ hành trong cơ sở lý luận của học thuyết này. Đó chính là lý do trong Ngũ hành cũng phân Âm Dương ngay từ những nguyên lý căn để của học thuyết này – Nhân danh nền văn minh Việt.
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->



III – Những nguyên lý căn để của thuyết Âm Dương Ngũ hành nhân danh nền văn hiến Lạc Việt:
Nền văn hiến Lạc Việt đã xác định bản thể khởi nguyên của vũ trụ (Giây 0 của vũ trụ) chính là Thái Cực.
III – 1: Thái Cực:

      Thái cực như tên gọi của nó là vượt ra mọi sự, mọi giới hạn. “Cực” là sự giới hạn; “Thái” là vượt qua mọi giới hạn.
     Bởi vậy Thái cực là một khái niệm mô tả thể bản nguyên của vũ trụ ở giây 0. Thái cực không lớn, không nhỏ, không nhanh và  không chậm. Thái cực không thời gian, không không gian và không lượng số.
    Trong Thái cực không có sự phân biệt nên không thể dùng mọi danh từ để nói về nó. Thái Cực là một tính từ được sử dụng như một danh từ  để thể hiện khởi nguyên của vũ trụ. Sự viên mãn và hoàn chỉnh của Thái cực được Biểu tượng bằng vòng tròn. Trong không gian biểu tượng của Thái Cực là hình cầu.
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->
Đây chính là hình tượng chiếc bánh dày trong nền văn hiến huyền vĩ Việt.
III – 2: Lưỡng Nghi:

       Một suy luận rất đơn giản và mang tính lý thuyết là: Nếu đến nay trạng thái khởi nguyên ấy vẫn giữ nguyên thì không có chúng ta. Chính sự hiện hữu của chúng ta đã cho thấy sự vận động của vũ trụ xuất phát từ trạng thái khởi nguyên này:
     Từ Thái Cực - Trạng thái tuyệt đối - đã xuất hiện trạng thái tương đối so với nó. Sự so sánh giữa cái tuyệt đối và cái tương đối xuất hiện sau đó trong cổ thư gọi là “Lưỡng Nghi”. Nguyên câu này là: “
Thái cực sinh lưỡng nghi” và là câu thể hiện nguyên lý hình thành vũ trụ nổi tiếng trong Lý học Đông phương. Hàng ngàn năm sau đó, các nhà lý học Hán khi tiếp thu nền văn hiến Việt đã không thể hiểu nổi nguyên lý này và họ đã thêm vào một khái niệm  mà họ gọi là “vô cực” để giải thích Thái cực. Đây là một sai lầm rất căn bản về lý thuyết ! Bởi vì khi có khái niệm Vô cực bên cạnh Thái cực thì tự nó đã có sự phân biệt giữa cực – Thái cực thì cần gì phải “Thái Cực sinh lưỡng nghi” nữa.
     Như vậy giữa cái tuyệt đối – Thái Cực là cái có trước sinh ra cái tương đối có sau , thì Thái Cực trở thành Dương và cái có sau là Âm – Ngay từ khởi nguyên vũ trụ.
     Bởi vậy, nguyên lý căn để trong lý học Đông phương nhân danh nền văn hiến Việt mà anh chị em phải có sự nhận thức xuyên suốt là:

<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->
1 - Dương tịnh – Âm Động.
2 - Dương trước Âm sau.
3 - Dương sinh Âm, Âm thuận tùng Dương.
4 - Âm Dương cân bằng - Trong Âm có Dương và trong Dương có Âm.

4 - 1: Hệ quả là:
- Âm thinh thì Dương suy, hoặc Âm khắc Dương sẽ tắc loạn;
- Dương thịnh  thì Âm suy, hoặc Dương khắc Âm sẽ tắc bế.

5 - 1: Dương thăng - Âm giáng trong tiên thiên là khi vũ trụ hình thành
5 - 2: Dương giáng Âm thăng trong Hậu thiên là do tương tác giữa vũ trụ và địa cầu - Liên quan trực tiếp đến Phong thủy sẽ học sau.


Đây là nguyên lý căn bản anh chị em cần nhớ kỹ và trong nghiên cứu, hoặc ứng dụng sẽ là nguyên lý xuyên suốt tất cả mọi luận cứ.

<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->

<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->
III – 3: Lưỡng Nghi sinh Tứ tượng

        Khi cái tương đối xuất hiên so với cái tuyệt đối từ khởi nguyên thì sự tương tác lập tức xuất hiện. Khoa học hiện đại cũng đã xác nhận rằng:
“Bản chất của vũ trụ là tương tác. Tính chất của tương tác thế nào thì hình thành bản chất sự vật như thế đó.” 
     Trong thuyết Âm Dương Ngũ hành. Tứ tượng là khái niệm của 4 trạng thái tương tác trong vũ trụ. Bốn trạng thái này được gọi là :
Tương sinh, tương khắc, tường thừa, tương vũ.
III – 3 – 1: Tương sinh:
Sự chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác gọi là tương sinh.
III – 3 – 2: Tương khắc:
Sự khắc chế của trạng thái này đối với trạng thái khác gọi là Tương khắc.
III – 3 – 3: Tương thừa:
Là một dạng của tương sinh nhưng thái quá. Như thủy quá vượng, mộc quá suy thì mộc không sinh được.
III – 3 – 4: Tương vũ:
Là một dạng của tương khắc ngược. Như Mộc quá vượng, Kim quá suy thì kim không khắc được.
III – 4: Thuyết Âm Dương ngũ hành:

     Nền văn hiến Lạc Việt xác định Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán, hoàn chỉnh và là một học thuyết khoa học giải thích từ sự hình thành vũ trụ đến mọi hành vi của con người.     

Thuyết này giải thích rằng:
 Khi vũ trụ hình thành, Âm Dương phân biệt thì ngũ hành xuất hiện nằm trong Âm ở từ bản nguyên vũ trụ. Sự tương tác qua ngũ hành làm nên vạn hữu trong vũ trụ hiện nay. Hình tượng chiếc bánh chưng của nền văn hiến Lạc Việt chính là biểu tượng của Âm - Tứ tượng và ngũ hành tương sinh trong vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành.
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->
Ngũ hành có tên gọi lân lượt là:
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->
1 Thủy – 2 Hỏa – 3 Mộc – 4 Kim – 5 Thổ.
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->
Khái niệm Thủy – Hỏa – Mộc …thể hiện năm dạng tồn tại của vật chất khởi nguyên của vũ trụ.     Thủy không hẳn là nước, nước chỉ là hình tượng của thủy. Cụ thể hơn: Tất cả hình tượng, trôi chảy đều là thủy kể cả xe cô lưu thông trên đường lộ.
Dịch kinh viết: “Khảm là Thủy, là cây có lõi cứng và to…”. Điều này chứng tỏ rằng: Ngay cả cây cối cũng phân biệt Ngũ hành. Bởi vậy khái niệm Ngũ hành chỉ mang tính khái quát cho việc phân biệt năm dạng tồn tại cơ bản của vật chất.
III – 4 – 1: Ngũ hành tương sinh:

Thổ sinh Kim; Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc; Mộc sinh Hỏa; Hỏa sinh Thổ và chu kỳ lặp lại. 
Những ký hiệu biểu tượng này dùng vạch đứt biểu tượng Âm () và dùng vạch liền biểu tượng Dương () ; Ba vạch kết hợp với nhau thành một quái. 

Có tám quái lần lượt với tên gọi và ký hiệu như sau:

CÀN
KHẢM
CẤN
CHẤN
KHÔN
LY
TỐN
ĐOÀI






Dưới đây là những đồ hình bát quái căn bản trong lý học Đông phương:



Độ số của các quái trong Tiên Thiên bát quái là:
Càn 1; Đoài 2; Ly 3; Chấn 4; Tốn 5; Khảm 6; Cấn 7; Khôn 8.
<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->
Thuyết Âm Dương Ngũ hành nhân danh nền văn hiến Việt quan niệm rằng:
Tiên thiên bát quái là ký hiệu siêu công thức mô tả sự tương tác của vũ trụ có tính bao trùm.
HẬU THIÊN BÁT QUÁI LẠC VIỆT



Thuyết Âm Dương Ngũ hành nhân danh nền văn hiến Việt quan niệm rằng:
Hậu Thiên bát quái Lạc Việt là ký hiệu siêu công thức mô tả sự tương tác của vũ trụ trực tiếp với Địa cầu.

<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->
HẬU THIÊN BÁT QUÁI LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ 


Thuyết Âm Dương Ngũ hành nhân danh nền văn hiến Việt quan niệm rằng:Đồ hình Hậu thiên bát quái Lạc Việt phối Hà đồ là đồ hình biểu lý căn để trong việc quán xét các tương tác vũ trụ lên địa cầu, cuộc sống thiên nhiên, xã hội và con người.
     Chính vì tính nguyên lý căn để của Hậu thiên bát quái Lạc Việt phối Hà đồ nên ứng dụng trong tất cả mọi vấn đề liên quan đến lý học Đông phương và làm nên tính nhất quán, hoàn chính và có hệ thống của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Trong đó có Phong Thủy Lạc Việt.

<!--[if !supportLineBreakNewLine]-->
<!--[endif]-->

IV – 2: Phương vị, tính chất và độ số của Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ:

Càn – Âm Kim đới Thủy, Tây Bắc Âm Thủy, độ số 6. Xanh da trời.Khảm – Dương Thủy, chính Bắc, độ số 1. Xanh đen.Cấn – Âm Mộc, Đông Bắc, độ số 8, Xanh lá cây nhạt.Chấn – Dương Mộc, chính Đông, độ số 3, Xanh lá cây đậm.Khôn – Âm Hỏa đới Thổ, Đông Nam, độ số 2. Nâu đỏ.Ly – Dương Hỏa, chính Nam, độ số 7, Đỏ.Tốn – Âm Kim, Tây Nam, độ số 4, Xám trắng.
Đoài – Dương Kim, chính Tây, độ số 9, trắng.

     Chính sự tương tác của Ngũ hành và Âm Dương ở các phương vị và độ số như vậy là những khái niệm căn bản để ứng dụng các môn trong Lý học Đông phương trong đó Phong Thủy Lạc Việt. Sự tương tác của 8 phương vị này lấy căn bản quán xét chính là từ trung tâm của bát quái.

Khi ứng dụng trong phong thủy Dương trạch là đối tượng truyền đạt kiến thức chủ yếu của khóa này chính là nhà ở của con người được xét từ tâm nhà.
Những khái niệm: Hướng, Sơn , Tọa và quan trọng nhất là tâm nhà được Phong Thủy Lạc Việt xác định một cách nhất quán từ bài học tiếp theo đây.


0 nhận xét

Bài 2

* Tự thưởng cho mình ly cafe để nhâm nhi và miên man suy nghĩ :
Lúc đầu lơ ngơ mua sách phong thủy về đọc xong rồi hô bọn nhỏ cùng bà xã kê lại giường chiếu , tủ ỉ .... mãi vẫn chẳng thấy thay đổi gì ! Rồi theo bạn bè học phong thủy của các thầy trứ danh .... vẫn chẳng thấy biết được bao nhiêu .
May thay gặp được các trang lý học đông phương và học được phong thủy lạc việt ,cũng chẳng biết đúng sai thế nào nhưng cứ học để tham khảo rồi thì tính sau .
Thầy thiensu bảo kinh dịch và phong thủy là của người Việt cổ ,do người Hoa Hạ xâm lược rồi Hán hóa và nhận là của mình . Nếu đúng vậy thì tự hào lắm thay !!!!!!
Dưng mà sao mấy nghìn năm mà không ai phát hiện ra điều đơn giản ấy nhỉ ? Phải chăng tổ tiên sớm đã dự định điều này .... và nay ủy nhiệm cho thày thiensu ? Nhưng mà thôi ,mình đã học rồi thì cứ học tiếp xem thế nào đã ,rồi học thêm cả phong thủy của các thầy khác thì kiến thức của mình sẽ phong phú hơn thôi . Chứ cứ học một thầy thì đúng sai thế nào mình cũng chả biết ... thế là lại trở thành người ngu trung . Thời buổi này lắm thầy thì nhiều ma ,nếu có thắc mắc thì lại gặp cảnh sư nói sư phải ,vãi nói vãi hay .
Cứ lưu trữ ở đây là yên tâm không mất  rồi :
* Bài 1 :


Giới thiệu sơ lược về lịch sử Phong Thủy và Phong Thủy Lạc Việt

I - NHỮNG DẤU ẤN CÒN LẠI TRONG BẢN VĂN CHỮ HÁN

Phương pháp phong thuỷ đã tồn tại từ rất lâu trong văn minh Đông phương cổ. Những tư liệu khảo cổ lâu nhất mà nhân loại tìm thấy được, mà người ta cho rằng mang dấu ấn của Phong thuỷ có từ 1500 năm trước Công Nguyên, qua những di vật khảo cổ tìm thấy ở Ân Khư - Thủ đô của nhà Hạ Ân trong lịch sử cổ đại Trung Hoa. Nhưng lý thuyết và phương pháp ứng dụng thực sự lưu truyền qua bản văn chữ Hán thì lại gần 2000 năm sau mới xuất hiện, cuốn sách cổ nhất được ghi nhận của Quách Phác đời Tấn, tựa là “Táng thư”. Từ đó về sau, những phương pháp ứng dụng phong thuỷ trong xây dựng nhà ở, dinh thự và cả phương pháp chôn cất với mục đích làm phát vượng cho dòng tộc đời sau (Âmtrạch), tiếp tục xuất hiện và nhiều nhất vào khoảng thời Đường Tống. Những phương pháp này - chủ yếu là dùng trong Dương Trạch - gần như khác nhau và xuấ thiện ở những thời điểm khác nhau, nên người ta cho rằng nó thuộc về những trường phái khác nhau. Hiện nay chúng ta ghi nhận được có bốn trường phái chính ứng dụng theo sách Hán cổ, có thể tóm tắt như sau:
I - 1: Bát trạch. 
Trường phái này lấy tuổi của gia chủ phối với tám hướng để định cát hung – tốt xấu giữa căn nhà với người ở trong nhà. Trường phái này quan niệm rằng chính hướng phía trước nhà và hướng sau nhà là những yế
u tố căn bản quyết định tốt xấu.
I - 2: Dương trạch tam yếu:
Trường phái này lấy bát quái là công cụ để biến quái trong việc phân phòng, buồng trong nhà định cát hung, tốt xấu. Trường phái này quan niệm rằng chính hướng cửa, vị trí biến quái của phòng chính (Phòng chúa) và vị trí biến quái của bếp là yếu tố chính quyết định tốt xấu.
I - 3: Loan đầu:
Trường phái này lấy cảnh quan môi trường của căn hộ yếu tố căn bản để nhận xét luận đoán cát hung, tốt xấu cho căn hộ. Cảnh quan môi trường cũng dựa trên phương vị la kinh, để phân tích cát hung, như đường nước chảy (Thủy Pháp), vị trí núi, sông, hồ cảnh quan ở phương vị khác nhau so với ngôi nhà sẽ có tác dụng khác nhau.
I - 4: Huyền Không:
Trường phái này căn cứ trên những quy ước về sự vận động của cửu tinh trên 9 phương vị (8 phương và ở giữa – Trung cung), tùy theo thuộc tính quy ước của cửu tinh và vị trí của nó để luận cát hung cho căn hộ.
Ngoài những sách vở chính thống thể hiện phương pháp của 4 trường phái nói trên thì phong thuỷ còn được lưu truyền một số phương pháp có tính bí truyền và chỉ truyền miệng trong dân gian, qua các giang hồ thuật sĩ. Như các phương pháp trấn (Đè lên) , yểm (Chôn)….vv….
Phong thuỷ cũng như Tử Vi, Bốc Dịch ....lưu truyền trong cổ thư chữ Hán chỉ là những phương pháp ứng dụng với phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành. Bản thân lý thuyết này đã thất truyền và rất mơ hồ. Bởi vậy – chính vì tính mơ hồ và thất truyền ấy – nên một thời rất dài khi tiếp xúc với nền văn minh Phương Tây, trong điều kiện khoa học kỹ thuật hiện đại ở buổi đầu sơ khai -khoa Phong thuỷ đã bị liệt vào loại “mê tín dị đoan”. Mặc dù hiệu quả của nó trên thực tế chính là nguyên nhân để nó tồn tại trải hàng ngàn năm trong xã hội Đông phương. Hiệu quả thực tế trải hàng ngàn năm và tính khách quan, tính qui luật với khả năng tiên tri của phương pháp phong thuỷ đã chứng tỏ một thực tại được nhân thức, tổng hợp thành một hệ thống lý thuyết và tạo ra một phương pháp ứng dụng của nó.
Vậy bản chất của phong thủy là gì? Để làm sáng tỏ vấn đề này thì một trongnhững yếu tố quan trọng là cội nguồn phong thủy từ đâu mà ra? Có đúng như quan niệm truyền thống theo cổ thư chữ Hán từ gần 2000 năm nay cho rằng xuất phát từvăn hóa Hán không? Trả lời vần đề này chính là nguyên nhân phục hồi lại Phong Thủy Lạc Việt mà chúng ta nghiên cứu, học hỏi sau đây.
II - LỊCH SỬ PHONG THỦY LẠC VIỆT
       Lịch sử huyền vĩ của dân tộc Việt trải gần 5000 năm văn hiến. Người Việt tự hào là dòng dõi của Cha Rồng - biểu tượng của sức mạnh vũ trụ - và Mẹ Tiên - biểu tượng của trí tuệ siêu việt. Trí tuệ vũ trụ này chính là nội dung của danh xưng văn hiến Việt. Cùng với nền văn minh cổ đại huyền vĩ khác là văn minh Ai Cập, nền văn hiến huyền vĩ của dân tộc Việt cũng bị sụp đổ ở thế kỷ thứ III trước CN ở bờ Nam sông Dương Tử. May mắn cho văn minh Ai Cập đã để lại những chứng tích cho sự tồn tại của nó. Đó chính là những kỳ quan của thế giới hiện nay. Một trong những di sản kỳ vĩ đó chính là Kim Tự tháp, mà cho đến ngày nay, trí thực hiện đại đầy tự hào vẫn còn phải bàng hoàng chiêm ngưỡng. Nhưng văn minh Việt huyền vĩ khi sụp đổ cách đây hơn 2000 năm trước, chỉ để lại những giá trị văn hoá phi vật thể, trong nền văn minh Đông phương kỳ bí đến huyền vĩ mà người ta cũng không thể hiểu nổi bản chất đích thực của nó, trải hàng thiên niên kỷ cho đến bây giờ. Một trong những sự kỳ vĩ huyền bí đó chính là phương pháp ứng dụng trong Phong Thuỷ.
      Khi nghiên cứu về Phong thuỷ, những nhà nghiên cứu lịch sử Phong thuỷ đều thống nhất cho rằng: Phương pháp ứng dụng trong Phong thuỷ thuộc về văn minh Hoa Hạ cổ. Căn cứ này hoàn toàn chỉ dựa vào những bản văn chữ Hán viết về phong thủy với những phương pháp ứng dụng của nó. Ngoài bản văn chữ Hán cổ viết về Phong thủy, người ta không tìm thấy một bản văn nào khác trong quá khứ gần 2000 năm viết về phong thủy và đó là cơ sở để người ta tin rằng Phong thủy có xuất xứ từ văn minh Hán. Và như phần trên đã trình bày, người ta cũng căn cứ vào thời điểm xuất hiện khác nhau trong thời gian lịch sử của văn minh Hán, của các phương pháp ứng dụng khác nhau trong phương pháp phong thuỷ mà họ gọi là trường phái. Nhưng vấn đề lại hoàn toàn không thể xuất phát từ một tư duy và cách nhìn đơn giản như vậy.
Trên cơ sở những nghiên cứu mới nhất theo tiêu chí khoa học hiện đại thì không thể nào có với một đối tượng duy nhất là con người và cùng một phương pháp luận của thuyết Âm Dương Ngũ hành - mà lại có những phương pháp khác nhau không liên quan đến nhau và đôi khi mâu thuẫn với nhau trong phương pháp ứng dụng. Điều này chỉ có thể giải thích một cách hợp lý rằng: Phong thuỷ chính là một phương pháp ứng dụng nhất quán và là hệ quả của một tri thức về thiên nhiên, cuộc sống, vũ trụ và con người được lý thuyết hoá - đó chính là thuyết Âm Dương Ngũ hành . Một học thuyết nhất quán và hoàn chỉnh . Học thuyết này đã thất truyền khi văn minh Lạc Việt bị sụp đổ ở miền nam sông Dương tử. Những giá trị của nền văn minh này bị tan tác và lưu truyền trong dân gian. Chúng lần lượt bị Hán hoá và được công bố tuỳ từng thời điểm, sau khi văn minh Việt bị sụp đổ trải hàng ngàn năm. Cách giải thích này với thực tại trong ứng dụng phong thuỷ chỉ có đối tượng duy nhất và phương pháp luận duy nhất đã chứng tỏ rằng: Bộ môn phong thuỷ này không thể thuộc về nền văn minh Hán , mà thuộc về nên văn hiến kỳ vĩ của người Lạc Việt và là một phương pháp nhất quán, hoàn chỉnh. Những phương pháp riêng phần gọi là trường phái trong văn minh Hán, thực chất là phương pháp ứng dụng những yếu tố tương tác khác nhau qua những ứng dụng cụ thể khác nhau do tính chất tương tác khác nhau. Khởi nguyên của học thuật phong thuỷ từ nên văn hiến Việt chính là sự tổng hợp của các yếu tố tương tác này.Cơ sở chứng minh cho rằng cội nguồn Lý học Đông phương thuộc về nền văn minh Lạc Việt tôi đã trình bày trong các sách đã xuất bản mà những cuốn chủ yếu là “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”; “Hà đồ trong văn minh Lạc Việt”; “Định mệnh có thật hay không?”…đều đã đưa lên trang chủ của diễn đàn, anh chị em có thể chép về tham khảo.

0 nhận xét

Bài 1 - Ngày đầu lưu giữ kiến thức

Sau bao nhiêu trăn trở về việc cất giữ tài liệu học tập và sưu tầm được của mình để mãi mãi không mất đi như lưu ở máy tính cá nhân và USB mà mình không tìm được giải pháp nào ưng ý . Thật may nay mình biết cách tạo & Lưu kiến thức của mình vào blog cá nhân ,vừa tiện lại không bao giờ lo bị thất lạc như các cách lưu trữ khác .
Vậy là từ nay đỡ phải lỉnh kỉnh  cái USB trong túi  ,mà khi muốn chỉ cần vài máy tính ở bất kỳ đâu trên thế giới là mình vẫn có tư liệu để làm việc .
Xin cảm ơn ai đã nghĩ ra phương tiện này và cảm ơn người bạn đã chỉ cho mình phương pháp sử dụng blog này !
Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2012 0 nhận xét

Mười hai cách tạo nghiệp tốt


Đạo hữu Lillian Too, một nhà phong thủy nổi tiếng thế giới, đã viết hơn tám mươi cuốn sách về đề tài này, và bà cũng đã cho xuất bản tạp chí Feng Shui World (Phong Thủy Thế Giới) phát hành hai tháng một kỳ. Mới đây bà đã mở rộng công việc xuất bản của mình với số đầu tiên là Mahayana (Đại Thừa Phật Giáo), một tạp chí trình bày truyền thống Đại Thừa Phật Giáo Tây Tạng, như phương châm " vì lợi lạc cho quần sanh". Mahayana đã nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt của mọi người tại quê hương của bà ở Singapore vào cuối năm ngoái. Bài viết sau đây là một phần nhỏ mà Tạp chí Mandala đã trích đăng từ tập sách của bà với tựa đề " 108 phương cách tạo nghiệp tốt


Theo giáo lý nhà Phật, luật nhân quả được giải thích rằng mỗi sự việc xảy ra sẽ có một sự kiện khác đi theo sau đó. Hệ quả xảy ra có an lạc, hạnh phúc hay khổ đau, khó chịu, có lợi hay có hại cho người khác và cho chính mình, tất cả đều tùy thuộc vào nguyên nhân ban đầu của hành động đó. Luật nhân quả dạy rằng gieo gió sẽ gặp bão, trồng cam sẽ được quả ngọt, trồng chanh ắt phải hái trái chua, đem niềm vui đến cho người, mình sẽ được hạnh phúc, gây khổ đau cho người, mình sẽ chịu sự bất hạnh. Người ta không thể thoát khỏi nghiệp quả của mình một khi chính mình đã gây tạo. Có nhiều cách tạo ra nghiệp tốt để hóa giải đi những nghiệp xấu mà chính mình đã cố ý hay vô tình gây ra trước đó. Bài viết này xin cống hiến 12 cách mà bạn có thể làm được ngay trong kiếp này để đời sống của bạn thay đổi.

1/ Hãy lấy từ bi làm tôn giáo của mình: tạo nghiệp tốt không có nghĩa là theo tôn giáo hay mộ đạo. Người ta không cần phải là một tín đồ Phật Giáo hay thuộc về một tín ngưỡng nào đó để có thể tạo nghiệp tốt. Con người chỉ cần thể hiện thái độ tử tế ân cần với người khác. Như Đức Đạt Lai Lạt Ma thường nhắc nhở " Tôn giáo của tôi là lòng từ bi", như vậy đã tạo nghiệp tốt rồi, không phải chỉ tử tế với người khác trong chốc lát mà phải luôn luôn, suốt cuộc đời của mình, trong mọi phương diện của đời sống, trong mọi mối liên hệ, trong mỗi công việc làm, trong tất cả những giao tiếp; khi chúng ta tiếp cận một việc gì mình làm, được thể hiện tấm lòng từ bi, thì khi đó chúng ta đang tạo nghiệp tốt, và đó là loại nghiệp tốt tạo ra một hệ quả mà tất cả mọi người khác đều tử tế với mình. Đó là phương cách chắc chắn nhất để gây dựng một cuộc đời mà trong đó những phiền não khổ đau sẽ tiêu tan.

2/ Trì chú: trì chú là việc làm cơ bản và dễ nhất cho một hành giả tu theo Mật Tông để bắt đầu đi trên con đường mở ra những chân trời mới cho tâm trí. Trước hết trì chú là cách thức mạnh nhất để thanh lọc những ác nghiệp mà chúng ta đã mang tới trong thế gian này với mình từ quá khứ. Nghiệp quả xấu vẫn còn ở trong thần thức của mỗi người, giòng tâm thức mà chúng ta mang theo từ kiếp sống quá khứ. Chúng ta hãy bắt đầu với thần chú nổi tiếng nhất thế giới, đó là tâm chú của Bồ Tát Quán Thế Âm " Án Ma Ni Bát Di Hồng" (Om Mani Padme Hum). Khi trì thần chú này, hãy tập trung vào âm thanh của chú và để âm thanh thâm nhập vào tận tâm thức của mình. Luôn luôn trì chú với ý tưởng mang lợi ích đến cho người khác. Không bao lâu sau đó, chúng ta sẽ thấy kết quả với những lợi ích tuyệt vời thâm nhập qua tâm thức của mình. Chúng ta sẽ sớm cảm thấy mình trở nên dễ thương hơn, khoan dung hơn, bớt bối rối hơn và trở nên bình tĩnh hơn. Nhiều vị Lạt Ma cao cấp nói rằng trì thần chú " Án Ma Ni Bát Di Hồng" có thể đưa chúng ta đến giác ngộ. Đây là một trong những thần chú có nhiều oai lực nhất mà chúng ta có thể hành trì hằng ngày.

3/ Niệm Phật: Một cách thức mạnh mẽ không ngờ để giải trừ những ác nghiệp là niệm danh hiệu Phật và lễ Phật sám hối. Trong khi niệm Phật chúng ta phát khởi ý nghĩ sám hối về những nghiệp xấu đã tạo ra trong những kiếp trước và ngay trong kiếp sống này. Niệm Phật thành tâm, nhờ tha lực của chư Phật cùng với sự tự lực của bản thân sẽ giúp cho những bất thiện nghiệp của chúng ta tiêu tan dần theo năm tháng. Chúng ta phát tâm quy ngưỡng Phật, tôn kính Phật, lễ Phật và niệm danh hiệu Phật là pháp tu phổ thông để tội diệt phước sanh, là một phương pháp rất mạnh mẽ để hóa giải những chướng ngại gây ra phiền não khổ đau cho chúng ta trong đời sống này.

4/ Thực hành thiền quán: Mấy năm trước khi gặp Thầy Bổn Sư của tôi là Lạt Ma Zopa (lãnh đạo tối cao của Hội Bảo Tồn Truyền Thống PG Đại Thừa, fpmt.org), tôi thỉnh ngài hướng dẫn tôi ngồi thiền, tôi trình với ngài rằng " lúc nào con cũng cảm thấy u uất trong lòng , xin Thầy hướng dẫn con tập thiền để tâm con được an tĩnh". Thầy Zopa cười nhẹ và nói " tham thiền là một pháp tu tuyệt vời. Thiền không phải chỉ để tâm trí an tĩnh thôi đâu, mà thiền còn có mục đích cao hơn nữa con ạ". Ngài vắn tắt giải thích rằng, thiền định hay sự phát triển tâm linh, hay sự quán chiếu về khổ đau, vô thường và vô ngã. Tham thiền là cách làm cho tinh thần tập trung, thanh thản và trong suốt như một dòng sông nước trong mà người ta có thể nhìn thấy tận đáy, từ đó ý thức biết được sự thể nghiệm về giải thoát và giác ngộ. Tham thiền cũng là quá trình tập trung và thấm nhập nhờ đó mà tâm chúng ta được an tĩnh và nhất tâm bất loạn, rồi đi đến giác ngộ. Nên hiểu rằng Thiền là sự nhận chân ra một năng lực tâm linh mới để có thể phán đoán sự vật trên một quan điểm mới, với mục đích là dứt khoát lật đổ ngôi nhà giả tạm mà mình đang có để dựng lên cái khác trên một nền móng hoàn toàn mới. Mái nhà cũ gọi là vô minh khổ đau, và ngôi nhà mới được gọi là giác ngộ giải thoát. Đó là đích đến của mọi hành giả tu theo Đạo Phật. Về căn bản, hành giả ngồi trên một tấm nệm với hai chân khoanh lại, lưng thẳng, hai mắt hé mở, nhìn khoảng một thước về phía trước, và bắt đầu thở đều hòa. Suy ngẫm và tập trung vào lý do hành thiền, động cơ ngồi thiền của mình, đó là phát tâm làm lợi ích cho chúng sanh. Xem động lực vị tha này là nền móng của việc tham thiền. Từ đó trở đi hành giả có thể quán tưởng về bất cứ một đề mục nào liên quan đến việc phát triển sự hiểu biết về đời sống của mình. Khi quán tưởng như vậy, hành giả nhẹ nhàng suy ngẫm về sự quý báu của đời người và sự may mắn là mình đã được sanh ra làm người, được sống, được gặp chánh pháp như hôm nay. Hành giả sẽ nhận thức rằng chỉ riêng việc sinh ra làm người đã là một may mắn rồi, vì mình có khả năng phân biệt, hiểu biết và suy nghiệm nghĩa lý sâu xa của Phật lý, để rồi biết tu tập để giải thoát vòng sinh tử khổ đau.

5/ Nhường đường khi lái xe: đã không ít tai nạn chết người xảy ra khi người lái xe giành đường, do vậy khi người Phật tử chạy xe trên đường phải giữ chánh niệm và biết rằng đây cũng là cơ hội cho ta tạo nghiệp tốt. Nhường đường cho người khác là chúng ta chạy chậm lại khi có người muốn vượt lên trước mình, dằn cảm giác khó chịu xuống hay không bóp kèn khi có người quẹo xe ẩu hoặc thậm chí đụng phải xe của mình. Những phiền não như vậy trong việc giao thông là những cơ hội cho ta đào luyện tâm trí với một nụ cười hoan hỷ trong bình tĩnh. Chúng ta cũng có thể nhường đường cho người khác ngay cả khi mình có quyền ưu tiên. Khi không có ý tưởng xem con đường là nơi tranh chấp giữa mình và những người lái xe khác, việc giao thông của chúng ta sẽ thú vị hơn nhiều và mỗi lần nhường đường cho người nào, chúng ta sẽ rất vui lòng vì biết rằng việc kềm chế tánh dễ nổi nóng của mình và đây cũng là một cách để tạo nghiệp tốt mà kết quả có về sau là đời sống của mình luôn gặp mọi sự hanh thông và may mắn.

6/ Dành phần thắng cho người khác và chấp nhận thua thiệt: khi nhường nhịn người khác, chúng ta nhiếp phục được sự tự ái của mình, và không thể để cho tự ngã của mình nghĩ đến những điều vị kỷ. Khi chấp nhận thua thiệt, sẽ là cơ hội cho ta diệt trừ tính kiêu ngạo. Pháp tu đặc biệt hữu dụng khi hoạt động trong thế gian vật chất hay trong cách cư xử với người khác trong công việc. Khi làm việc gì quan trọng hay phải làm xong một việc nào đó trước thời hạn, sự căng thẳng thường phát sinh giữa mình và người khác, và đó là lúc người ta nghĩ đến ảo tưởng thắng và thua, được và mất. Hãy xem đó là những cơ hội tạo nghiệp tốt. Tôi nhớ có những lần tôi đã tranh luận một cách nóng nẩy chỉ để biện minh cho quan điểm của mình, để rồi rốt cuộc tôi nhận ra rằng mình đã không chỉ gây ra phiền não cho mình mà còn làm cho người khác bực mình, khó chịu nữa. Chỉ khi gặp được Lama Zopa và được học Phật, tôi mới học được phương cách đối trị tính háo thắng của mình. Tôi đã khám phá tính chất giải thoát của sự chịu thua thiệt, sự buông bỏ và sự không bị trói buộc vào tham vọng chiến thắng. Đó là lúc tôi nhận ra là mình đã cảm thấy an lạc nhiều hơn mỗi khi chấp nhận thua thiệt, nhường phần thắng cho người khác. Hành vi đầu hàng trước ý kiến hay quan điểm của người khác không phải là trốn tránh thảo luận, mà là một lối đồng ý với nhau rằng chúng ta không đồng ý kiến, và đồng thời vẫn tiếp tục ủng hộ và giúp đỡ nhau. Khi làm như vậy, chúng ta đang tạo nghiệp tốt và tất nhiên bạn sẽ nhận được nhiều sự hỗ trợ tương tự của người khác trong tương lai.

7/ Tránh sát hại những sinh vật nhỏ nhất: Người ta dễ dàng xâm hại đến sinh mạng của các loài vật, đặc biệt là những loài nhỏ nhất. Một hôm đang đi trên lề đường, tôi nhận thấy có nhiều con kiến bò ngang lối đi, tôi biết rằng nếu mình không có ý thức thì mình đã vô tình giết chết nhiều sinh mạng và như vậy chúng ta dễ dàng tạo ác nghiệp về sát sinh ngay trên mỗi bước chân của mình. Tôi cẩn thận không giẩm đạp lên những con kiến nhỏ bé này và tôi ngạc nhiên cảm thấy sự vui sướng rộn lên trong lòng của mình. Phật dạy tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, ngay cả những con vật nhỏ nhất cũng có Phật tánh, nhưng vì kiếp này chúng vì nghiệp chướng nặng nề nên phải mang thân hình khác người, hiểu điều đó, nên ta cố gắng tránh sát hại một cách vô ý thức của chúng ta. Kết quả tránh sát hại sinh vật sẽ giúp chúng ta sống khỏe mạnh, không bệnh tật và tăng tuổi thọ về sau.

8/ Phóng sinh loài cá: phóng sinh là hành động cứu sống, công đức rất lớn, có thể giúp người làm việc này giảm bệnh tật và kéo dài tuối thọ ngay trong hiện đời. Mấy năm trước khi tôi đến thành phố Varanasi, Ấn Độ (nơi Đức Phật chuyển pháp luân đầu tiên), trong chuyến hành hương với Thầy tôi, Lama Zopa. Ngài đã đưa chúng tôi đến thăm sông Hằng và hướng dẫn chúng tôi làm công đức. Chúng tôi ngồi trền thuyền cầu nguyện và thả cá xuống giòng sông. Tôi có cảm giác tuyệt vời khi nhìn thấy những con cá tươi sống mà chúng tôi vừa mua từ những người dân chài ở gần đó, chúng quẫy đuôi nhảy trở lại nước sông và bơi lội tự do. Sau đó thầy tôi ghi câu thần chú trên một trái bong bóng rồi cột ở mạn thuyền để cho bong bóng chạm vào làn nước trong khi chiếc thuyền lướt đi. Ngài giải thích rằng bằng cách này để cho thần chú của Phật chạm vào làn nước để ban phước cho những loài vật sống dưới nước.

9/ Cúng nước: Mấy năm trước khi gặp Thầy tôi, Lạt Ma Zopa lần đầu tiên, tôi thỉnh Ngài về nhà tôi. Ngài rất hoan hỷ khi nhìn thấy bức tượng Phật độc nhất mà tôi chưng trong phòng khách. Ngài bảo tôi lấy chén nước để ngài cúng bức tượng đó. Ngài dạy tôi cúng chén nước sẽ tạo nhiều công đức và là phương thức có oai lực lớn để hóa giải những nghiệp xấu về sân hận và những vấn đề khác còn tồn tại trong tâm trí của mình. Tôi đã làm theo lời dạy của ngài mỗi ngày, và không bao lâu chúng tôi đã có hàng trăm chén nước trong nhà, chỉ vì thời gian qua tôi có thêm những tượng Phật mới. Tôi rất thích đi tìm những loại chén pha lê và việc thay nước mỗi buổi sáng đã trở thành một nghi lễ trong gia đình của tôi. Qua thời gian, tôi cảm thấy những kết quả tốt, căn nhà của tôi đã trở thành một ốc đảo thấm đầy an lạc, và những chướng ngại trước đây trong đời sống của chúng tôi nay đã tan biến mất. Những sân hận cáu gắt, những trận cải vã vô nghĩa, nhỏ mọn thường phá sự yên tĩnh trong nhà chúng tôi, nay đã không còn nữa, những cơn nóng giận đã đi vào quá khứ. Thật là một điều kỳ diệu khi chúng ta cúng nước cho Chư Phật.

10/ Bố thí, đóng góp cho việc từ thiện: Hành động hiến tặng cho người khác là một cách thức tuyệt vời để tạo nghiệp tốt trong đời sống ngắn ngũi này. Bố thí là hạnh đi đầu của những ai muốn thực thi Bồ tát hạnh. Kết quả của hạnh bố thí là mình được giàu sang, phú quý về sau. Về phương diện tinh thần thì lòng tham lam, bủn xỉn của mình nhỏ dần lại và biến mất sau một thời gian mình thực hành việc bố thí. Khi hiến tặng cho người cũng là lúc chúng ta gia tăng tích lủy thiện nghiệp xuất phát từ lòng từ bi. Mình luôn cho ra với một tấm lòng quảng đại, vui vẽ, hoan hỷ không có bất cứ một điều kiện nào đi kèm, đó là bố thí đúng nghĩa với lời Phật dạy. Nếu bạn không có khả năng bố thí tiền bạc thì có thể bố thí thời giờ, công sức, sự hiểu biết hay tài năng của mình, để giúp cho đời sống này bớt khổ đau, tất cả những điều này cũng có giá trị ngang nhau với tiền bạc. Một khi động lực tinh truyền, không một ý đồ mưu toan xen lẫn vào hành động bố thí thì bạn đã thành công phần nào đó trong công hạnh này rồi.

11/ Nuôi cá cảnh: khi viết những cuốn sách về phong thủy, tôi luôn đề nghị thân chủ nuôi cá cảnh để tạo lực thịnh vượng và sự mát mẻ trong gia tộc. Nhưng việc nuôi cá cũng có mục đích cao hơn về tinh thần. Mỗi buổi sáng khi cho cá ăn hoặc thay nước cho cá, đó là bạn đang tạo nghiệp tốt. Thật vậy mỗi lần cung cấp thức ăn cho cá là bạn có niềm vui vì biết mình đang làm một việc tốt. Những con cá không cần phải đẹp và hồ nước của cá cũng không cần phải có ý nghĩa phong thủy để làm động lực cho lòng từ bi của bạn phát sinh. Hãy nghĩ như vậy rồi những con cá sẽ mang đến cho bạn những niềm vui lớn trong đời sống này.

12/ Sẳn lòng lắng nghe tâm sự của người khác: khi có người nào tìm đến mình để tìm sự an ủi, chia sẻ hay để nương tựa vào bạn, vì họ không có người nào để tìm tới, bạn đừng xua đuổi họ, dù đó là người mà bạn chưa từng quen biết, dù bạn đang bận rộn, dù bạn không thích nghe người khác than thở. Bạn chỉ cần dành một chút thời gian cho họ. Hãy sẳn sàng làm bạn với cả những người xa lạ. Dùng tinh thần mạnh mẽ của mình để giúp những người yếu đuối. Chia sẻ kinh nghiệm an lạc của mình với người khác, dù cho người ấy không quen thân với mình, làm được như vậy là bạn đang thực hành tốt lòng từ bi trong đời sống và cũng là người đang đi trên lộ trình hành Bồ Tát Đạo.


Cư sĩ Lillian Too-Thich NguyenTang dịch
 
;